Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) phối hợp Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE) giao Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC) đã tổ chức buổi tham vấn pháp luật miễn phí dành cho các doanh nghiệp thành viên Câu lạc bộ Doanh nhân IMRIC – IRLIE (Viện IMRIC) và Câu lạc bộ Báo chí Truyền thông&Chính sách pháp luật (Viện IRLIE) vào sáng ngày 19/01/2026, tại Bt01 – Galaxy 4 – KĐT Galaxy – phường Hà Đông, Thành phố Hà Nội và đầu cầu phía Nam tại số 414, đường Huỳnh Tấn Phát, phường Tân Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Đồng Nai (Tổ 1, Khu Văn Hải, Thị trấn Long Thành (cũ); tại Phú Quốc số 1, đường Đoàn Thị Điểm, phường Dương Đông, TP. Phú Quốc, An Giang; Phòng giao dịch số 65, đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Hưng, TP.HCM…
Có thể thấy, trong quá trình hoạt động của Viện Nghiên cứu Thị trường – Truyền thông Quốc tế (IMRIC) thường xuyên phối hợp Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE) luôn xem công tác trợ giúp pháp lý góp phần giúp người dân giảm nghèo về pháp luật, do đó, Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua năm 2006 và Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua năm 2017 đều xác định người nghèo là nhóm đối tượng ưu tiên đầu tiên trong các nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý…
Đồng thời, truyền tải nội dung trên các trang tin điện tử, mạng xã hội, tạp chí in như: www.huongnghiepthitruong.vn (Viện IMRIC); www.chinhsachphapluat.vn (Viện IRLIE); www.tuvanphapluatvietnam.vn (Trung tâm TVPLMS); www.thamvanphapluat.vn (Trung tâm TTLCC); www.nghiencuupldautu.vn (Hiệp hội Nghiên cứu, Tư vấn về Chính sách, pháp luật cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam “AVRCIPL”); www.bestlife.net.vn; www.vanhoacongdong.vn (Hiệp hội Phát triển Văn hoá cộng đồng Việt Nam)…
Theo đó, các hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC) về công tác trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người yếu thế được triển khai đồng bộ, thống nhất trên toàn quốc và được thực hiện thường xuyên, trong đó chú trọng các hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, người yếu thế như: thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý; truyền thông về trợ giúp pháp lý ở cơ sở; nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý, đội ngũ người tham gia trợ giúp pháp lý…
Cùng với đó, các hoạt động trợ giúp pháp lý được Viện IMRIC; Viện IRLIE; Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC) tuyên truyền về các vụ việc trợ giúp pháp lý, với mong muốn ngày càng được nâng cao, nhiều vụ việc thành công, hiệu quả như người được trợ giúp pháp lý được tuyên không có tội hoặc được tuyên mức án nhẹ hơn hoặc chuyển tội danh hay thay đổi khung hình phạt thấp hơn so với mức đề nghị trong cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân…Đặc biệt, trongsuốt thời gian qua trợ giúp pháp lý đã thể hiện rất tốt vai trò của mình trong việc đảm bảo việc xét xử vụ việc khách quan, đúng người, đúng tội, tránh được oan sai cho người dân cũng như đã thực hiện thành công chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho người nghèo, các đối tượng yếu thế trong xã hội. Trợ giúp pháp lý đã giúp người dân sử dụng pháp luật khi có tranh chấp, vướng mắc, giúp người dân “giảm nghèo về pháp luật”, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, người dân yên tâm lao động để giảm nghèo về kinh tế…
Tại buổi tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật miễn phí lần này, các luật gia, luật sư, tư vấn viên, cộng tác viên tư vấn pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm (TTLCC) đã tham vấn về hai trường hợp cụ thể như sau:
Tình huống 1: Kể từ ngày 01/07 – Điều kiện chuyển giao người đang chấp hành án tù tại Việt Nam ra nước ngoài

Thành viên CLB DN IMRIC – IRLIE băn khoăn: Làm thế nào để đủ điều kiện chuyển giao người đang chấp hành án tù tại Việt Nam ra nước ngoài?
Qua theo dõi báo chí đưa tin, Quốc hội đã thông qua Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025, quy định cụ thể về điều kiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài. Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 sẽ có hiệu lực từ ngày 1-7-2026.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 32 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025, người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có thể được chuyển giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện…
Cụ thể: Là công dân của nước nhận hoặc là người được phép cư trú không thời hạn ở nước nhận hoặc được nước nhận đồng ý tiếp nhận; Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án tại Việt Nam cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật nước nhận vào thời điểm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm; Có đủ các điều kiện như bản án, quyết định đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật, không còn thủ tục tố tụng nào đang chờ xử lý. Có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù; trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên, người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khoẻ và trạng thái tinh thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.
Cùng với đó, đã thực hiện xong trách nhiệm dân sự trong bản án, hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản và các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật hoặc được nước nhận, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hỗ trợ thực hiện các trách nhiệm pháp lý này hoặc được nước nhận cam kết bảo đảm người đang chấp hành án phạt tù sẽ thực hiện các trách nhiệm pháp lý này sau khi được chuyển giao về nước nhận; Có sự đồng ý của Việt Nam trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập yêu cầu chuyển giao hoặc sự đồng ý của nước nhận trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao.
Qua tham chiếu Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 đã cụ thể hóa và siết chặt hơn các điều kiện chuyển giao, bổ sung nhiều tiêu chí mới như: yêu cầu về tội danh tương ứng giữa hai nước, thời hạn còn lại của hình phạt, sự đồng ý của người đang chấp hành án, cũng như cơ chế bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự linh hoạt hơn. Đồng thời, luật mới cũng loại bỏ tiêu chí “có người thân thích” và thay thế bằng yêu cầu được nước nhận chính thức đồng ý tiếp nhận, qua đó nâng cao tính pháp lý, minh bạch và bảo đảm quyền con người.
Tình huống thứ 2: Làm thế nào ngăn chặn chuyển dịch đối với thụ lý vụ án là căn cứ ngăn chặn chuyển dịch nhà đất?

Thành viên CLB DN IMRIC – IRLIE nêu câu hỏi: Thông báo thụ lý của tòa án có là căn cứ để ngăn chặn chuyển nhượng nhà đất?
Trong các tranh chấp liên quan đến đất đai, người dân thường khởi kiện ra tòa và nộp đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn việc chuyển nhượng để tránh các hậu quả pháp lý về sau.
Căn cứ vào khoản 7 Điều 114 BLTTDS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi chuyển dịch quyền sở hữu hoặc các quyền khác liên quan đến tài sản đang là đối tượng tranh chấp. Cụ thể, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án, nếu phát hiện người đang chiếm hữu, giữ gìn hoặc quản lý tài sản tranh chấp có dấu hiệu chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp hoặc thực hiện bất kỳ giao dịch nào nhằm chuyển quyền đối với tài sản đó cho bên thứ ba, thì tòa án có quyền áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch ngay lập tức.
Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tranh chấp, tránh tình trạng tài sản bị “rút ruột” hoặc thay đổi chủ sở hữu trước khi có phán quyết cuối cùng, từ đó đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của quá trình tố tụng.
Điển hình, tài sản bị áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch bao gồm cả động sản (như xe cộ, máy móc di động) và bất động sản (như nhà cửa, công trình xây dựng).
Trên thực tế, quy định này thường được áp dụng phổ biến đối với các loại tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chẳng hạn như quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc tài sản gắn liền với đất. Việc đăng ký này giúp cơ quan quản lý dễ dàng kiểm soát và ghi nhận các thay đổi, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để ngăn chặn giao dịch trái phép.
Có thể thấy, bên cạnh biện pháp tư pháp qua tòa án, pháp luật còn cung cấp biện pháp hành chính để ngăn chặn giao dịch đất đai trong tranh chấp.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 19 Nghị định 101/2024/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 1-8-2024), người có quyền lợi bị xâm phạm có thể gửi đơn đề nghị kèm theo thông báo thụ lý vụ án của tòa án đến Văn phòng đăng ký đất đai (hoặc chi nhánh của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất).
Khi nhận đơn và thông báo thụ lý, cơ quan đăng ký đất đai sẽ ghi nhận ý kiến đề nghị của người gửi đơn để làm cơ sở pháp lý; ban hành văn bản phúc đáp chính thức, xác nhận việc ngăn chặn; tạm dừng mọi thủ tục tiếp nhận hoặc giải quyết hồ sơ đăng ký liên quan đến thửa đất, tài sản tranh chấp trên cổng thông tin dữ liệu đất đai quốc gia.
Mục đích của quy định này là tránh tình trạng: cơ quan hành chính tiếp tục cấp giấy chứng nhận hoặc cho phép giao dịch trong khi tòa án đang xem xét tranh chấp, dẫn đến mâu thuẫn với phán quyết sau này. Nhờ đó, tính thống nhất của hệ thống pháp luật được đảm bảo, bảo vệ quyền lợi của bên tranh chấp và ngăn ngừa tranh chấp mới phát sinh từ giao dịch “bất chính”.
Các giao dịch bị dừng bao gồm: mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, cho thuê dài hạn, thừa kế hoặc phân chia tài sản…Thời gian dừng kéo dài đến khi có phán quyết của tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ việc được giải quyết bằng hòa giải thành công.
Mặc dù vậy, cũng có ngoại lệ đó là trường hợp đăng ký đất đai lần đầu (chưa cấp giấy chứng nhận), nơi cơ quan đăng ký vẫn có thể tiếp tục thủ tục nếu không liên quan trực tiếp đến tranh chấp.
Ở trường hợp này, người yêu cầu đăng ký sẽ được thông báo lý do dừng và nhận lại hồ sơ để bổ sung sau, tránh làm gián đoạn quyền lợi hợp pháp của những người sử dụng đất chưa chính thức hóa giấy tờ.
Trên thực tế, nhiều vụ việc xảy ra tình trạng “chạy đua” pháp lý khi người khởi kiện nộp đơn nhưng tòa chưa kịp thụ lý trong khi bên kia (bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) nhanh chóng chuyển nhượng tài sản cho bên thứ ba để “thoát tội” hoặc tránh trách nhiệm.
Ở trường hợp này, người khởi kiện có quyền yêu cầu tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho tòa án. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận được đơn tòa án phải xem xét chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT.
Xin khuyến nghị, để tòa án chấp thuận áp dụng BPKCTT, người yêu cầu phải chứng minh được tính cấp bách (như nguy cơ tài sản bị chuyển nhượng ngay lập tức) và chấp nhận ký quỹ đảm bảo.
Số tiền ký quỹ này do tòa án quyết định dựa trên giá trị tài sản và mức độ thiệt hại có thể xảy ra, nhằm bù đắp cho bên bị áp dụng biện pháp nếu sau này chứng minh được rằng yêu cầu là không có cơ sở (ví dụ vụ việc bị bác bỏ). Nếu không ký quỹ, tòa án có thể từ chối áp dụng biện pháp, giúp cân bằng quyền lợi giữa các bên và tránh lạm dụng tố tụng.
Như vậy, việc ngăn chặn chuyển dịch quyền tài sản qua biện pháp hành chính không chỉ đơn giản là “từ chối hồ sơ” mà còn bao gồm việc cập nhật dữ liệu trên hệ thống quốc gia, giúp các bên liên quan dễ dàng tra cứu và tuân thủ. Các quy định này tạo nên một cơ chế bảo vệ toàn diện, kết hợp giữa tư pháp và hành chính, giúp giảm thiểu rủi ro trong tranh chấp đất đai.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 19 Nghị định 101/2024/NĐ-CP là một bước tiến khi chỉ cần có thông báo thụ lý của tòa xác định đây là tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì các chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai sẽ tạm dừng các thủ tục tiếp nhận hoặc giải quyết hồ sơ đăng ký liên quan đến thửa đất, tài sản tranh chấp cho đến khi có phán quyết của tòa án.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 19 Nghị định 101/2024/NĐ-CP – Cơ quan tiếp nhận hồ sơ, cơ quan giải quyết thủ tục không tiếp nhận hồ sơ hoặc dừng giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và trả hồ sơ cho người yêu cầu đăng ký, trừ trường hợp đăng ký đất đai lần đầu mà không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trong các trường hợp sau: Nhận được văn bản của Tòa án nhân dân có thẩm quyền về việc đã thụ lý đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất;
Trên đây là hai trường hợp được các luật gia, luật sư, các tư vấn viên pháp luật đã tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, rất mong quý doanh nghiệp và người dân tham khảo…Chúng tôi sẳn sàngtham vấn pháp lý miễn phí nhằm lan toả, nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật trong doanh nghiệp và người dân ngày càng được nhân rộng. Đồng thời, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức tuân thủ, chấp hành, tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật, xây dựng lối sống và làm việc theo pháp luật trong toàn xã hội; đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phát triển ổn định, bền vững, đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, góp phần bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền được thông tin về pháp luật của công dân…
Luật sư Nguyễn Thành Hưng – Giám đốc Chi nhánh số 1 Đồng Nai; Phó giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật Toàn Tâm

















